Lý Thường Kiệt (P5): Công hạ thành Ung Châu

Trận viễn chinh công thành lớn nhất lịch sử

Sau các trận thắng chớp nhoáng ở châu Khâm Liêm. Đoàn quân viễn chinh Đại Việt chia làm ba cánh tiến về cứ điểm mạnh nhất cần phải bị tiêu diệt, thành Ung Châu.

Một cánh xuất phát từ Khâm, Liêm do Lý Thường Kiệt chỉ huy. Cánh khác dẫn quân từ biên giới đường bộ phía Cổ Vạn, Hoành Sơn, Tây Bình do Tôn Đản chỉ huy. Một cánh từ Liêm Châu do Tín Nghĩa Vương Lý Chiêu Văn chỉ huy sẽ trên đường tiến đánh Ung Châu mà lo tảo thanh các châu Dung, Nghi, Bạch.

Ung Châu là một thành lũy kiên cố và là cứ điểm quan trọng nhất, mang tính then chốt trong toàn bộ cuộc viễn chinh. Nơi đây thành cao hào sâu với khoảng 10 vạn quân thủ thành là một thử thách rất lớn cho quân Đại Việt, vì theo quy tắc của binh pháp thì quân công thành ít nhất phải gấp đôi quân thủ thành. Mà tổng lực lượng quân ta tất cả các cánh quân chỉ có 10 vạn, bằng số quân thủ thành. Chưa kể nơi đây là sâu trong nội địa Trung Quốc, nơi quân ta rất xa đường tiếp liệu hậu cần.

Tổng quan chiến sự Ung Châu

Sau khi vượt qua dãy núi Thập Vạn, ngày 10 tháng Chạp (18/1/1076) đại quân mới đặt chân đến thành Ung Châu. Hai cánh quân kẹp lại, bắt đầu vây chặt Ung châu.

Tương quan lực lượng các bên:

Thành Ung Châu: tướng chỉ huy Tô Giam (chữ Hán: 蘇緘 nhiều sách ghi nhầm là Tô Giàm hay Tô Giám) ban đầu chỉ là 1 quan văn nhưng lại giỏi mưu lược binh pháp và võ nghệ, từng dẹp giặc cướp, đánh bại quân Nùng Trí Cao. Thành Ung Châu cao dày và có Thần tý cung (nỏ lớn) cùng nhiều lương thực vật tư đủ để dùng thời gian dài.

“Quân trong thành Ung có sáu vạn người gồm đạo binh 29, 30 đạo kỵ binh 40, ba vạn bảo binh, và bốn vạn dân binh. Tổng cộng mười vạn người thủ thành.”
(Tống triều công thần bi ký)

Quân Đại Việt: Lý Thường Kiệt tổng chỉ huy, Tôn Đản, Lý Hoằng Chân, Lý Chiêu Văn và các tướng lĩnh khác chỉ huy các đạo Thiên tử binh. Tổng quân số 5 hiệu Thiên tử binh gồm cả 1 đạo kỵ binh khoảng 6 vạn cộng hậu cần khoảng 10 vạn người.

Chiến lược chủ yếu:

Thành Ung Châu: Tô Giam cho rằng Ung Châu cách Quế Châu không xa nên quyết cố thủ đợi viện binh. Huy động toàn bộ dân chúng cùng tham gia thủ thành. Dùng thủ đoạn và kỷ luật quân sự để củng cố lòng dân.

Giam bèn hô hào người trong quận, bảo người nào có tài dũng thì bày tỏ phương lược, rồi chia nhau phòng thủ. Dân nghe tin, rất sợ hãi; đạp nhau chạy, đông không biết bao nhiêu mà kể. Thấy quân dân nao núng, Giam đem hết của công và tư bày ra cho quân xem, rồi nói :”Khí giới ta đã dự bị đủ, lương thực trữ cũng không thiếu. Bây giờ giặc đã đến dưới thành. Chỉ còn cách cố thủ lấy thành để đợi ngoại viện. Ắt là ta sẽ thắng. Nếu có một ai chạy, thì lòng dân sẽ náo động, và đại sự sẽ hỏng. Nếu chúng ngươi nghe ta, thì sẽ được hậu thưởng. Nếu có ai không nghe mà bỏ chạy, thì ta sẽ chém.”

Trước đó, con Giam là Tử Nguyên, vốn làm quan ở Quế Châu, đưa vợ con tới thăm Giam. Lúc sắp trở về, thì thành Ung bị vây. Tuy vậy, Tử Nguyên muốn đưa vợ con đi, Giàm không cho, và chỉ để Tử Nguyên một mình đi thôi. Ấy vì sợ nếu bà con mình chạy, thì dân gian sẽ chạy hỗn loạn. Có một viên đại hiệu, tên Địch Tích, muốn trốn. Giam sai người nấp ngoài cửa, bắt được quả tang, đem chém và bêu đầu để làm gương. Vì thế, trên dưới ai cũng nín hơi mà nghe theo.
(Tống sử, Tục tư trị thông giám trường biên)

Quân Đại Việt: do quân số không đạt ưu thế tuyệt đối so với quân thủ thành nên ta dùng chiến thuật mà thời nay người ta gọi là vây điểm diệt viện, nghĩa là bao vây chặt rồi luân phiên công thành, đánh tiêu hao quân thủ thành, cho đến khi họ tuyệt nguồn sinh lực. Trong khi đó lại đặt phục binh tiêu diệt viện quân để tăng thêm sự tuyệt vọng cầu sinh cho phía thủ thành. Nhưng muốn đạt đến mục tiêu chiến lược tiêu diệt thành Ung châu, cần phải có 1 chiến thắng gây sụp đổ ý chí của quân dân trong thành, đó chính là trận diệt viện binh lừng danh ở núi Đại Giáp, hoàn toàn tiêu diệt chủ lực cứu viện, giết chết tất cả tướng lãnh đồng thời đập tan mọi hy vọng của quân dân thành Ung.

Đại Giáp sơn, Trương Thủ Tiết do dự mà bỏ mạng

Trận phục kích giết chết Trương Thủ Tiết cũng như trận vây thành Ung Châu là một minh chứng hùng hồn cho nghệ thuật và sức mạnh quân sự nhà Lý lúc đó đã đạt đến đỉnh cao nhất của thời đại. Các triều đại của Trung Hoa sau này, có nhiều sử gia văn thần khi nói đến chiến thắng này có phần qua loa, thuật chuyện đơn giản, qua đó vô hình chung hạ thấp sức mạnh thật sự của quân nhà Lý cũng như ngầm biểu thị rằng Trương Thủ Tiết và bộ chỉ huy bất tài mà thua trận. 

Nhưng mọi chuyện không đơn giản như thế, vì chiến tranh xét về bản chất lại chính là thứ công bằng và chính xác đến một mức độ vô cùng nghiệt ngã. Đó là chỉ có kẻ mạnh hơn mới chiến thắng. Mạnh hơn nghĩa là bố trí tốt hơn, quân sĩ thiện chiến hơn và vận dụng hoàn hảo hơn tất cả các lợi thế trên chiến trường và cũng có thể là.. may mắn hơn. Vô luận trong suốt lịch sử chiến tranh mấy nghìn năm của dân ta chống Bắc phương nói chung hay thời Lý nói riêng, các trận đánh “nhất chiến thành danh” của Tiên tổ hay bị các sử gia xem là lấy “yếu” thắng “mạnh”. 

Điều này sẽ làm tô hồng và thần thánh hóa các chiến công đó. Tuy nhiên sự thực không như thế, chiến tranh là sự đọ sức bằng máu, bằng sức người và sức của. Kẻ nào tiêu hao hết trước là kẻ thua, làm cho kẻ địch tiêu hao trước, đó là nghệ thuật, hay còn gọi là binh pháp. Trong các chiến công đó, các danh tướng Đại Việt đã biến đoàn quân của mình trở nên “mạnh hơn” đúng với nghĩa đen và giành chiến thắng chung cuộc. 

Thời điểm Lý Thường Kiệt đem quân đánh Trung Quốc, quân đội nhà Tống lúc này đã bạc nhược hơn so với lúc họ lập quốc, mà ngay thời điểm hùng mạnh nhất của họ là thời Tống Thái Tông, cũng hùng hổ đem quân đánh Đại Việt mà cũng phải ôm hận dưới tay Lê Hoàn. Sang đến thời nhà Lý thì tố chất quân sĩ và sự tinh nhuệ của quân Đại Việt còn cao hơn rất nhiều. Đó là lý do vì sao mà Nùng Trí Cao có thể dương uy ở nội địa Trung Quốc hoành hành vô kỵ, mà ở Đại Việt lại bị vua Lý bắt như bắt đứa trẻ con. Đơn giản vì quân đội nhà Lý thời điểm đó hoàn toàn mạnh hơn quân Tống, xét về cả các mặt của tổ chức, huấn luyện, trang bị, kỷ luật. Vì thế mà chỉ cần 6 vạn quân, 4 vạn phu mà Lý Thường Kiệt có thể tốc chiến tốc thắng ở Trung Quốc không ai cản nổi. Sự tinh nhuệ của quân Lý không được sử nhà Tống ghi nhận, nhưng trong mộ chí của Trương Thủ Tiết, viên bại tướng trận Đại Giáp lại ghi rất rõ. Tác giả Trần Đại Sỹ có phóng tác lại điều này trong tác phẩm của mình:

“Vừa lúc đó, trống thúc vang dội, quân reo dậy đất. Quân canh vào báo: – Có hai đạo quân từ phương Đông đang kéo đến. Thủ-Tiết với các tướng vội ra phía Đông trại quan sát: Từ xa xa, hai đạo quân hùng tráng, uy nghi, cờ xí rực trời, gươm đao sáng choang đang tiến tới. Đi đầu là một tướng trẻ, với kỳ hiệu thêu hàng chữ lớn “Trung Thành vương” ; cạnh có hai nam khôi ngô hùng vĩ, hai nữ yểu điệu sắc nước hương trời trông như bốn cây ngọc trước gió. Bên trái, một cặp nam nữ tướng đi dưới lá cờ vàng thêu con rồng trắng có hàng chữ “Đại Việt, Thiên tử binh Quảng Thánh”, một lá khác có chữ “Đô thống Vũ”. Bên phải lại một cặp nam nữ nữa đi dưới lá cờ vàng thêu con rồng đen có hàng chữ “Đại Việt Thiên tử binh Quảng Vũ” một lá khác có chữ “Đô thống Đinh”.

Thủ Tiết hỏi viên tham tướng coi về tế tác: “Hôm qua đánh lên núi, ta đã gặp sáu tướng Việt đều là con nít, ba trai, ba gái. Ban nãy ta lại bị hai đôi trai gái xua quân đốt trại, quấy rối suốt đêm. Bây giờ còn bốn trai, bốn gái nữa. Chúng là ai vậy?”. “Thưa, Đại Việt có mười hai hiệu Thiên tử binh. Mỗi hiệu do một tướng với vợ y chỉ huy. Tuy tuổi chúng trẻ, nhưng mưu kế, cùng tài dụng binh thực vô địch. Năm tên được vua Giao Chỉ ban cho mỹ hiệu là Long Biên ngũ hùng, bẩy tên được ban mỹ hiệu là Tây Hồ thất kiệt. Ngoài ra, trong khi đánh Chiêm, Mộc-tồn hòa thượng ra tay cứu mạng cho mười kỳ-chủ Hồng-thiết giáo Chiêm, rồi thu làm đệ tử, bọn này được Thái hậu Giao Chỉ ban cho mỹ hiệu Thần Vũ thập anh. Trận này Long Biên ngũ hùng, Thần Vũ thập anh đều có mặt. Đám Thần Vũ thập anh không có tài dùng binh, nhưng võ công cao thâm, lại yêu nước vô bờ bến. Cứ như hiệu kỳ, thì tên đi giữa là hoàng tử Lý Hoằng Chân, con của Khai Quốc vương, cháu gọi Kinh Nam vương bằng cậu. Võ công, trí lự của y không thua cậu làm bao.

Ôn Nguyên Dụ than: “Hôm trước tên thứ hai, thứ ba trong Long Biên ngũ hùng là Vũ Quang, Đinh Hoàng Nghi với vợ chúng xuất hiện rồi. Hôm qua, tôi đụng trận với hai tên Phạm Dật, Lý Đoan cùng hai con vợ nó, suýt nữa thì bỏ mạng. Còn cái tên với vợ nó bắn đại nỏ ban nãy là ai?”

“Thưa, y đứng hàng thứ tư trong Long Biên ngũ hùng tên Lý Đoan”.
Thủ Tiết lắc đầu: “Năm tên này không thể gọi là Long Biên ngũ hùng, mà phải gọi là “Giao Chỉ ngũ kiêu” mới đúng. Chúng lợi hại không ai tưởng tượng nổi”

(trích Nam Quốc Sơn Hà, Trần Đại Sỹ)

Do ưu thế hơn hẳn về các mặt, quân Đại Việt đã thành công đánh tan hoàn toàn đạo quân cứu viện khá mạnh của nhà Tống và các tướng lãnh chỉ huy gồm Trương Thủ Tiết, Ôn Nguyên Dụ, Trương Biện, Hứa Dự và Vương Trấn tử trận. Thế nhưng trong sử nhà Tống là Tư trị thông giám tiền biên lại chỉ thuật qua chứ không nói chi tiết làm cho hậu thế ngỡ đây là 1 trận đánh đơn giản. Nhưng may mắn thay, trận đánh kinh hồn này đã được miêu tả tường tận trong 5 mộ chí của các vị tướng tử trận và cũng được phóng tác lại như sau:

“Khi lên tới đỉnh Hoả Giáp, Trương đứng trên mỏm núi cao quan sát về hướng Đông, nơi Trung Thành vương đóng quân, thấy đèn đuốc lập lòe trên một khoảng thung lũng rộng, y cười với chư tướng: “Ngày mai, ít ra phải tới Ngọ, Hoằng Chân mới biết ta tiến quân, y có tập trung quân đuổi theo thì cũng phải sáng ngày kia (mốt) mới lên đường được. Bấy giờ ta đã bắt tay được với Tô Giam rồi”. 

Thình lình ba chiếc pháo thăng thiên vọt lên trên trời, nổ tung, ánh sáng tỏa ra hình ba con chim ưng sáng chói trong đêm tối. Rồi tiếp theo hàng loạt tiếng Lôi tiễn bắn lên trời, nổ rung động không gian, ánh lửa sáng lòa rừng núi. Lại tiếng máy bắn đá kêu rít lên những tiếng ghê sợ. Lôi tiễn, đá đổ chụp lên đầu đội hình quân Tống đang đi. Quân reo, trống thúc, chiêng rền. Quân Việt từ trong các hốc đá, trong rừng bắn ra. Quân Tống không biết quân Việt ở đâu, thành ra chỉ biết tìm chỗ núp.

Thủ Tiết kinh hồn, hỏi viên tướng tham quân Triệu Tú: “Lỗi tại ta! Lỗi tại ta! Người đã rộng lượng, mở đường cho ta lui, mà ta làm ngược, nên ta phải lĩnh cái hậu quả này. Làm sao bây giờ?”

Y đứng trên mỏm đá cao, trông về hướng Bắc, nơi đạo kỵ mã đi đoạn hậu. Y rùng mình khi thấy dưới ánh lửa chập chờn hiện ra cảnh hỗn loạn; kỵ binh bị trúng phục binh của Thần nỏ, Thần hổ, Thần báo. Kỵmã bị bắn ngã lổng chổng, còn ngựa thì bị Thần hổ, Thần báo, Thần ngao tấn công bỏ chạy tán loạn. Dù khoảng cách hơn sáu dậm (3 km), y cũng nhìn thấy tướng chỉ huy đoàn phục kích là Lý Đoan, Ngọc Liên, Hùng Nghĩa, Âu Thanh.

Y lại nhìn về hướng Nam, nơi đạo quân đệ nhất đã đổ đồi, thì chỉ còn thấy cảnh quân Tống đầu hàng bị quân Việt lùa ngồi thành từng hàng, hai tay đưa lên đầu.

Còn hai đạo binh đệ nhị, đệ tam thì đang chiến đấu tuyệt vọng. 

Vô tình y nhìn lên: Phía chỏm ba góc núi, mỗi chỏm một tướng Việt đang dùng đuốc để chỉ đường cho quân tấn công. Dưới ánh đuốc chập chờn, y nhận ra đó là Phạm Dật, Vũ Quang, Đinh Hoàng Nghi. Cuộc nã Thạch xa, Lôi-tiễn, bắn tên, xung sát suốt từ giờ Sửu đến hết giờ Dần thì Hoàng Nghi đánh ba tiếng chiêng, lập tức Thạch xa, đại nỏ ngưng tác xạ, quân Việt cũng lui vào rừng.

Trung Thành Vương đứng trên chót vót một cây cao, tay cầm loa hướng vào phía quân Tống: “Binh tướng Tống nghe đây! Phía hậu quân, đạo kỵ binh bị Thần hổ, Thần báo, Thần Ngao bao vây đã đầu hàng hết rồi. Phía trước, đạo đệ nhất bị Thần phong đốt, bị trúng trận địa của Thần nỏ, bị diệt hết. Hãy mau mau buông vũ khí, hai tay chắp lại để lên đầu, rồi đi xuống chân núi, sẽ khỏi chết. Ta, Trung Thành Vương, đem quân nhân nghĩa sang cứu dân Hán bị khổ vì Tân pháp; hứa rằng: Ai đầu hàng sẽ được tha. Ai chống sẽ bị bắt cho hổ, báo ăn thịt.”

Sau mấy lần gọi loa, quân Tống buông vũ khí, rời chỗ nấp, nối đuôi nhau xuống núi. Đến cuối giờ Dần, khi ánh nắng Xuân chiếu chứa chan trên núi Hỏa Giáp; Trương Thủ Tiết cùng mấy viên tá lãnh mệt nhừ người ra, rồi cùng nhau đứng dậy quan sát trận địa: Trên con đường vắt ngang qua núi Hỏa-giáp, vũ khí, vật dụng ngổn ngang khắp nơi. Cạnh vũ khí, nào xác chết của người, nào xác chết của ngựa nằm rải rác trên đường, dưới khe, hốc đá. Có xác bị tên xuyên qua người, có xác bị trúng đá thây dập nát; lại có thương binh chưa chết, kẻ thì nằm thở thoi thóp, người thì rên la. Một vài binh sĩ còn sống sót, ngồi dựa lưng vào vách đá, vào gốc cây, mặt mũi lem luốc, máu me khắp thân. Chúng ngơ ngác nhìn Trương, mà không nói nên lời.

Trương Thủ Tiết cung tay nói với Ngọc Liên: “Mệnh trời đã định như vậy, thì Trương này còn sống sao được? Kẻ bại trận mong phu nhân về khải với Trung Thành Vương rằng, xin người cho chôn năm anh em chúng tôi tại đây, để oan hồn ngày ngày cản bước những kẻ làm trái mệnh trời. Nói dứt lời, Trương đưa kiếm lên cổ tự tử.”
(trích Nam Quốc Sơn Hà, Trần Đại Sỹ)

Trận Ung Châu, Tô Giam cả nhà chết theo thành

Trận công thành nổi tiếng nhất của quân Nam trên đất Trung Hoa này thường được miêu tả khá thống nhất giữa sử Việt và Hoa. Đại khái là nói quân Việt đánh thành vất vả đến 40 ngày mới hạ, sau đó giết 5 vạn 8 nghìn quân giữ thành chất thành 580 đống đầu lâu.

Điều này vô tình làm hạ thấp sự tinh nhuệ của quân đội nhà Lý thời đó, và làm uy danh của quân giữ thành Ung Châu lên cao vì chỉ có non 6 vạn người mà lại có thể chống cự quân công thành đến 10 vạn tận 40 ngày. Lý do đơn giản là vì sử của Việt sau này là Toàn thư cũng là chép lại đoạn đó từ Tống sử mà thôi.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “ Tri Ung châu là Tô Giam cố thủ không hàng. Quân ta đánh đến hơn 40 ngày, chồng bao đất trèo lên thành. Thành bèn bị hạ. Giám cho gia thuộc 36 người chết trước, chôn xác vào hố, rồi châm lửa tự đốt chết. người trong thành cảm ân nghĩa của Giám, không một người nào chịu hàng, giết hết hơn 5 vạn 8 nghìn người, cộng với số người chết ở các châu Khâm, Liêm thì đến hơn 10 vạn.”

Sử liệu Trung Quốc chép: “Quân Giao Chỉ đánh lâu mới vào được thành, khi vào được thì trong thành chỉ còn hơn sáu nghìn quân. Hai bên hỗn chiến nửa ngày, thì quân Tống chết hết. Quân Giao chặt đầu xếp thành 580 đống, mỗi đống 100 đầu. Họ (quân Giao) lại thu nhặt xác chết của gần mười vạn quân Tống chết trước đó, vùi tạm trong thành; đem đốt đi”.

Nhưng trong tư liệu của gia tộc tướng Quách Quỳ là Quách Thị Nam Chinh lại ghi khác một chút: “khi quân Việt vào thành Ung, quân trong thành chỉ còn hơn sáu nghìn người. Họ đều chiến đấu đến khi chết hết”. Vậy đã rõ, đống đầu lâu của 5 vạn 8000 người kia là của những quân thủ thành còn lại đã chiến đấu đến chết. Tổng quân thủ là khoảng 10 vạn người.

Một điểm lạ thứ hai trong ghi chép về trận công thành này chính là thời gian đánh và công hạ thành. Các sách sử đều chép là quân Việt công thành 40 ngày nhưng trong trận đánh cuối cùng hạ thành lại chỉ mất có chưa đến…2 ngày. Ta có thể suy ra 40 ngày công thành trước đó chính là chiến lược của Đại Việt, nó bắt nguồn từ việc quân số không đủ đông để đánh cả hai mặt trận mà mục tiêu chiến lược là phải đánh tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm, không được phép thất bại, nên quân Đại Việt phía Ung Châu chỉ vây chặt, đánh rát vừa đủ để quân thủ thành sợ mà đi cầu cứu. Trong lúc đó lại âm thầm phân binh lực đón đánh tiêu diệt quân tiếp viện. Cách đánh này sẽ đảm bảo thắng lợi chắc chắn cho toàn chiến dịch dù là khá mất thời gian. Sau khi viện quân đã hoàn toàn bị diệt sau 4 ngày chiến đấu, các cánh quân hội sư dưới chân thành Ung Châu và dù cho quan quân Ung Châu có chiến đấu đến người cuối cùng thì kết quả là quân Nam cũng chỉ mất có chưa đến 2 ngày để hạ thành một cách triệt để.

Ta có thể một lần nữa thấy điều mà cả sử Việt và Hoa đều không hề nêu bật lên, đó chính là sự tinh nhuệ và cách đánh trận của quân nhà Lý thực sự là mạnh và vượt trội hoàn toàn so với Tống. Chúng ta chỉ cần có gần 2 ngày để đánh tiêu diệt 1 thành lũy kiên cố với non 10 vạn quân thủ và 1 tướng chỉ huy có tài.

Do cả sử Việt và Hoa đều đã để mai một đi chiến công rực rỡ này, nên chúng ta chỉ còn cách cùng nhau tưởng tượng về nó khi xem tiểu thuyết nhé. Điều an ủi là quyển tiểu thuyết này viết dựa trên những tư liệu lịch sử quý hiếm, độ khả tín có thể xem là rất cao so với hiện nay.

“Hai bên bàn luận gần nửa ngày, mà vẫn không đi đến kết quả nào. Cuối cùng nguyên soái Thường Kiệt quyết định: Đồng ý cho đánh thành Ung, với hai điều kiện. Một là không được hy sinh quá năm trăm quân Việt. Hai là trong bảy ngày mà không hạ được thành, thì coi như thất bại, cho rút quân. 

Việc đánh thành trao cho Trung Thành Vương, Tín Nghĩa Vương. Hai vương họp với Long Biên ngũ hùng, Tây Hồ thất kiệt, Thần Vũ thập anh, Vũ kỵ thượng tướng quân để nghị kế đánh thành. 

Đinh Hoàng Nghi đứng lên nói: ‘Nguyên soái đã giới hạn cho chúng ta bảy ngày, vậy bây giờ đệ xin đưa ra năm bước phá thành Ung, chỉ trong ba ngày mà quân mình chết rất ít, nhưng quân Tống thì chết nhiều lắm’.
Tín Nghĩa Vương hỏi: ‘Nghi đệ thử nói cho ta nghe xem nào?’

–Bước thứ nhất là tuyệt đường cấp nước. Trong mấy ngày đánh thành, đệ chú ý thấy quanh thành Ung có con hào cực sâu bắt nguồn từ một sông nhỏ. Hào lại có lạch nhỏ thông vào trong thành. Địa thế thành rất cao. Nếu bây giờ ta ngăn nước con sông thông với hào, rồi khơi đất thực sâu, ắt bao nhiêu nước quanh hào sẽ rút ra hết. Như vậy chỉ nội trong hai ngày trong thành không còn nước uống nữa.

Mọi người vỗ tay hoan hô.

–Bước thứ nhì là lấp hào. Ta hiện có trong tay hai vạn tù binh. Sau khi khơi hết nước ở hào quanh thành, ta dùng tù binh khuân đá lấp hào. Dĩ nhiên trong khi họ lấp hào, thì quân trong thành có thể bắn tên, lăn đá xuống. Vậy khi họ khuân đá lấp hào, thì ta dùng đội Thần tiễn Long Biên phục bên ngoài, hễ quân Tống nhô đầu lên là bắn ngã.
Trung Thành Vương gật đầu: ‘Phương pháp này được. Rồi sao?’

–Bước thứ ba là ta dùng lối công thành như vũ bão, như sét nổ liên tiếp ngày đêm; reo hò xung phong, dùng đại nỏ bắn Lôi tiễn đốt sạch nhà cửa, kho lẫm. Như vậy chỉ hai ngày sau quân Tống kiệt lực, lương thảo cháy hết, nhà cửa trú ngụ chẳng còn. Bấy giờ ta tiến sang bước thứ tư.

Mọi người hỏi: ‘Bước thứ tư là gì?’

–Bước thứ tư là, quân ta, người nào cũng có một cái túi vải lớn đựng trang phục, dụng cụ. Ta lệnh cho quân tạm cất trang phục, dụng cở ở trại, lấy túi đó đựng đất. Ta cho họ chờ sẵn ở gần bốn khu của bốn tường thành. Bước thứ năm, ta cho bắn tới tấp, bắn thực nhiều Lôi-tiễn vào thành, không chừa một chỗ nào. Bấy giờ quân Tống không còn thấy trời đất là gì; ta cho quân xung phong đến trước tường thành xếp bao lại thành bức tường có bậc, rồi leo rồi leo vào trong.

Trung Thành Vương khen ngợi: ‘Được, ta đồng ý kế hoạch của Nghi đệ”.

Vương ban lệnh: ‘Trong năm bước Nghi đệ đưa ra, có hai phần chính yếu. Hai phần này phải phối hợp nhịp nhàng với nhau. Việc thứ nhất là khơi nước, lấp hào, đem túi vải làm ụ. Việc thứ nhì là công thành. Vậy việc thứ nhất Tín Nghĩa Vương đảm trách. Việc thứ hai do ta đảm trách.

Vương hỏi em: ‘Nhị đệ! Nhị đệ định trao cho ai làm, bao giờ thì làm?’

–Làm ngay lập tức.

Tín Nghĩa Vương trả lời: ‘Việc tổng chỉ huy đào đất ngăn nước sông, khơi nước trong thành chảy ra ngoài giao cho Vũ kỵ thượng tướng quân Hà Mai Việt.

Hà Mai Việt đứng dậy nhận lệnh.

–Việc dùng tù binh lấp hào trao cho Thần Vũ thập anh. Công tác phải thi hành ngay lập tức, không kể ngày đêm.
Thần Vũ thập anh đứng dậy nhận lệnh.

–Việc chất bao đất làm ụ, sẽ do Tây Hồ thất kiệt dùng bản bộ quân mã thực hiện.
Trung Thành Vương vui lòng: ‘Lực lượng công thành không cần đông. Chỉ cần bốn hiệu đánh bốn mặt, một hiệu đánh vào trung ương. Việc này ta giao cho Long-biên ngũ-hùng’.

Vương ban lệnh: ‘Việc tổng chỉ huy nã đại nỏ vào thành, ta giao cho Phạm Dật. Lúc đầu để cho quân khỏi mệt, ta chia lực lượng làm hai, luân phiên nhau, mỗi ngày hai hiệu đánh hai hiệu nghỉ. Vậy Vũ Quang, Hoàng Nghi một phiên; Lý Đoan, Trần Ninh một phiên. Cứ hai hiệu công, thì hai hiệu nghỉ. Sau hai ngày, quân Tống mệt mỏi rồi, thì ta dùng cả bốn hiệu cùng đánh. Vũ Quang cửa Tây, Hoàng Nghi cửa Bắc, Lý Đoan cửa Nam, Trần Ninh cửa Đông’.

Vương đưa mắt nhìn Phạm Dật: ‘Ngay chiều nay, Vũ Quang, Hoàng Nghi đánh trước.
Giờ Tuất (19-21 giờ)ngày 20 tháng giêng, Phạm Dật sai bắn lên trời mũi Lôi tiễn chứa hoàng thạch, mã não. Mũi Lôi tiễn lên cao, thì lửa bắt cháy vào hoàng thạch, mã não phát nổ như tiếng sấm rung động không gian thành Ung. Tại bốn phía, bọn Vũ Quang, Hoàng Nghi, Võ Kim Liên, Phương Quỳnh, đã leo lên trúc đài chờ đợi từ lâu. Khi thấy mũi đại Lôi tiễn nổ, thì biết là lệnh công thành bắt đầu. Cả bốn người đều cầm cờ đỏ phất lên, nỏ binh châm lửa phát pháo. Phút chốc hàng trăm tiếng nổ rung động thành Ung, lửa phụt lên cao, bắn tung ra khắp nơi. Sau hai khắc, thành ngập trong biển lửa. Quân Tống kinh hoàng ôm đầu chạy toán loạn, tiếng ngựa hí, tiếng chó tru, tiếng người gào thét lẫn với tiếng nổ của Lôi tiễn vọng đi rất xa. Quân trên thành đành núp trong hố, không giám ngóc đầu dậy. Tín Nghĩa Vương đứng trên đài cao nhìn rất rõ biến chuyển trong thành. Vương ra lệnh cho Hà Mai Việt, Thần Vũ thập anh hành sự.

Cuộc nã Lôi tiễn diễn ra suốt đêm, cho tới giờ Thìn ngày hôm sau, 22 tháng giêng, thì đổi phiên. Phiên này do Lý Đoan, Trần Ninh, Ngọc Liên, Ngọc Hương đảm trách. Cũng cùng lúc ấy Hà Mai Việt đã cho khơi cạn hết nước bốn con hào quanh thành. Đến chiều hôm ấy, thì Thần Vũ thập anh đã lấp xong bốn con hào.

Giờ Dậu, ngày 22 tháng Giêng, Trung Thành Vương, Tín Nghĩa Vương đi một vòng quanh thành quan sát trận thế. Đến tối nhị vương truyền mời chư tướng lại họp.

Tín Nghĩa Vương hỏi Long-biên ngũ hùng: ‘Từ trưa đến giờ các em có nhận thấy gì khác lạ không?
Kim Loan, Kim Liên trả lời: ‘Em thấy dường như trong thành tê liệt hoàn toàn, không còn sức chống trả nữa’.

– Đúng thế. Vậy Tây-hồ thất kiệt chuẩn bị, đúng giờ Dần ngày mai, thì cho quân xếp cho quân xếp bao đất làm ụ leo vào.
Đêm đó, đến phiên Lý Đoan, Trần Ninh, Ngọc Liên, Ngọc Hương chỉ huy hai hiệu Bổng Nhật, Đằng Hải nã đại nỏ cầm chừng, mục đích làm cho quân Tống ăn ngủ không yên.

Ngày 23 tháng giêng. Đúng ra sang giờ Sửu (1-3 giờ sáng) thì tới phiên Vũ Quang, Hoàng Nghi, Kim Liên, Phương Quỳnh công thành cho đám Lý Đoan, Trần Ninh nghỉ. Nhưng hôm nay là ngày đại tấn công. Bốn cặp Dật, Quang, Đoan, Ninh dàn quân ra bốn mặt Tây, Bắc, Đông, Nam, còn Hoàng Nghi với bản bộ quân mã thêm đội Thần tiễn Long-biên chờ đợi ở cửa Nam. Bốn mặt, bốn hiệu quân cùng bắn đại nỏ vào thành. Đây là lần đầu tiên thành Ung phải hứng chịu một cuộc hỏa công kinh hồn động phách như vậy.

Sau một giờ bắn đá, Lôi tiễn, vừa sang giờ Dần, Tín Nghĩa Vương cho tung lên trời năm chiếc pháo thăng thiên, tỏa ra năm mầu vàng, trắng, đen, xanh, đỏ. Đó là lệnh cho quân mang bao đất làm ụ. Lập tức Tây Hồ thất kiệt phất cờ hiệu, quân xung vào sát tường, mỗi người lính đều mang một bao đất, mau chóng xếp lại với nhau, phút chốc thành một cái ụ có nhiều bậc cao bằng mặt thành.

Thần Vũ thập anh tung mình leo lên đầu tiên với đội Thần tiễn Long-biên. Không gặp một chống cự nào. Mười người cho mở cổng thành ra, đội Thần hổ, Thần báo gầm lên một tiếng rung động trời đất, tỏa ra như rẻ quạt, xung vào trước. Bốn hiệu Thiên tử binh reo hò tràn như nước vỡ bờ tiến vào chiếm bốn khu. Còn hiệu Quảng-vũ do Hoàng Nghi, Phương Quỳnh chỉ huy, xông thẳng vào trung ương. Tất cả không gặp một kháng cự nào.

Trung Thành Vương, Tín Nghĩa Vương đã nhập thành. Một cảnh tượng kinh hoàng phơi bầy ra trước mắt hai vương: Khắp nơi chỉ còn trăm căn nhà bằng ngói là nguyên vẹn. Còn nhà gỗ, nhà tranh, cái thì cháy chỉ còn nền, cái thì trơ lại mấy cái cột. Rải rác trên mặt đất, xác chết chồng chất lên nhau, lẫn lộn trong đống tro, trong bùn lầy. Lại có những cái nằm vắt vẻo trên cây, chân tay co quắp, mắt trợn trừng trừng; mùi hôi thối xông lên nồng nặc.

Đinh Hoàng Nghi có nhiệm vụ tiến chiếm dinh tổng trấn. Cho nên khi vừa vào trong, chàng cùng Phương-Quỳnh xua quân tiến thẳng vào trung ương. Một đội võ sĩ Tống hơn ba trăm người dàn ra ra chặn lại. Đội võ sĩ này, quần áo rách bươm, đầu tóc tả tơi; được chỉ huy bởi Tô Giam. Họ chiến đấu rất mãnh liệt. Nhưng họ đương đầu sao nổi với đội Thần tiễn Long-biên, và hiệu Quảng Vũ? Nên trong khoảnh khắc, chỉ còn lại hơn ba chục người. Phương Quỳnh thấy vậy, động lòng bất trắc, ra lệnh cho đội Thần tiễn:

– Ngừng tay!

Nàng tiến lên cung tay hành lễ với Tô Giam:

–Tô tướng quân! Người cứ thong thả lùi vào dinh. Tiểu nữ hứa không làm khó dễ người cùng bảo quyến đâu.

Trung Thành Vương, Tín Nghĩa Vương đã tới. Tín Nghĩa Vương hướng Tô Giam chắp tay:

– Tô tiên sinh, đầu hàng đi thôi!

Tô Giam trong dáng mệt mỏi cùng cực, nhưng tinh thần vẫn tỉnh táo, ông chắp tay hướng hai vương:

– Nhị vị vương gia! Tô Giam này đã trấn ở Nam-thùy trong hơn ba mươi năm nay, nên hiểu rất rõ Đại Việt. Chính lão phu từng chống đối chính sách của Thẩm Khởi, Lưu Di gây hấn với Đại Việt. Nhưng… nhưng chỉ vì cương trực, lại chủ thân với Đại Việt, mà hoạn lộ đầy chông gai, mà phải ở dưới quyền bọn Thẩm, Lưu. Nay cái tai vạ này, do chính chúng gây ra, rồi lão phu phải chịu. Hôm nay lão phu nhất định sẽ chết ở thành Ung này để báo đáp quân phụ.

Trung Thành Vương chắp tay hành lễ:

–Tô tiên sinh chẳng nên bi phẫn, anh em tiểu sinh hứa cấp ngựa, xe, lương thảo để tiên sinh với gia quyến rời khỏi đây.

Tô Giam vái nhị vương:

– Đa tạ nhị vị vương gia, lão phu sống thì trấn thủ thành Ung, nay thành Ung mất, thì nguyện làm ma thành Ung. Vậy lão phu xin nhị vương ban cho một ân huệ.

Tín Nghĩa Vương cảm động:

–Xin tiên sinh cứ nói, anh em tiểu sinh nguyện chu toàn.

Tô chỉ vào dinh mình:

–Nguyện vọng của lão phu là xin nhị vương không cho bất cứ người hay thú nào vào trong dinh của lão phu trong vòng một giờ. Không biết vương có hứa cho không?

Tín Nghĩa Vương gật đầu:

– Tiểu sinh xin hứa.

Vương phất tay cho binh sĩ, cùng các đội thú lùi ra xa. Tô Giam cùng đôi võ sĩ tiến vào trong dinh. Khoảng hơn khắc sau, trong dinh bốc cháy, phút chốc ngọn lửa bốc cao. Trong khói lửa chập chờn, người người đều thấy Tô Giam mặc quần áo đại trào, tay cầm hốt, ngồi nghiêm chỉnh, miệng mỉm cười, cho tới khi dinh thự sụp đổ. Nhị vương cùng chư tướng hướng vào trong đám lửa cháy, vái ba vái. Khoảng nửa giờ sau, dinh tổng trấn chỉ còn lại một đống than đỏ lừ. Nhưng vì đã hứa trong một giờ không cho quân nhập dinh tổng trấn, nên Tín Nghĩa Vương chỉ biết đứng nhìn. Đợi đúng một giờ sau, nhị vương cho bới than, tìm ra được ba mươi sáu xác chết là vợ, con, cháu của Tô Giam, với với xác của hai mươi mốt dũng sĩ.

Quân Đại-Việt được lệnh rút ra ngoài thành, chỉ để lại hiệu Bổng Nhật của Lý Đoan, Ngọc Liên thu dọn chiến trường.

Trung Thành vương cho quân thu nhặt xác chết xếp lại thành từng đống, rồi sai chất củi, đổ dầu thiêu hết. Vương sai khâm liệm thi thể Tô Giam với gia quyến đem chôn, lại cho lập bia đá trên từng mộ, đề tên từng người. Còn dân, quân còn sống sót thì bắt rời thành thành, vì sợ độc khí tử thi gây bệnh.

Nguyên soái Thường-Kiệt, quân sư Tôn Đản đã tới. Nước mắt đầm đìa, công chúa Thiên-Ninh đọc kinh vãng sanh cho oan hồn binh tướng, dân chúng Tống. Thường Kiệt nói với Trung, Tín nhị vương:

–Ta hẹn cho nhị đệ bẩy bẩy ngày để hạ thành Ung, nhưng nhị đệ thành công trong vòng ba ngày. Ta lại hẹn không thể để quân chết quá năm trăm, mà nhị đệ chỉ hy sinh có hơn trăm tù binh. Giỏi. Thôi, ta hủy thành, rồi lui binh.”

(Nam Quốc Sơn Hà, Trần Đại Sỹ)

Minh Bảo

(Còn tiếp)

Napsat komentář

Vaše e-mailová adresa nebude zveřejněna.