Anh hùng đất Việt

Thay lời mở đầu

02.2017

Nước ta lịch sử mấy nghìn năm

 

Mấy nghìn năm chống giặc xâm lăng

 

Bắc thuộc ngàn năm ngàn dâu bể (1)

 

Độc lập thiên niên thiên sử vàng

 

Muôn dân lành hy sinh xương máu

 

Các anh hùng dâng hiến trí năng

 

Tinh hoa văn hóa lo gìn giữ

 

Rồng Tiên cơ nghiệp vững âu vàng (2).

________________

(1) ‘Dâu bể’ hay ‘bể dâu’ nghĩa đen là bãi bể đã biến thành nương dâu sau một thờigian lâu dài. Ý nghĩa ở đây là biết bao đổi thay trong suốt nghìn năm Bắc thuộc.

(2) ‘‘Vững âu vàng’ là từ câu thơ của vua Trần Nhân Tông: ”Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu” nghĩa là “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá, Non song nghìn thuở vững âu vàng”

Trưng Nữ Vương (1)

08.2013/09.2021

 

Kinh Dương Vương khai quốc Nam phương (2)

 

Nhà Hán xâm lăng diệt Triệu Vương (3)

 

Hồng Lạc giống nòi thành Di, Địch (4)

 

Bách Việt non sông hóa quận, phường (5)

 

Thù nhà vung kiếm trừ Tô quỉ (6)

 

Cứu quốc dương cờ chống Mã cuồng (7)

 

Nghìn năm, sáu chục thành Nam Lĩnh (8)

 

Ai sánh anh hùng – Trưng Nữ Vương?

________________

1. Hai Bà Trưng (hai bà mang họ Trưng; 13 tháng 9 năm 14 – 5 tháng 3 năm 43) là tên chỉ chung hai chị em Trưng Trắc (徵側) và Trưng Nhị (徵貳), hai nữ anh hùng dân tộc của người Việt. Hai Bà là những thủ lĩnh khởi binh chống lại chính quyền đô hộ của Đông Hán, lập ra một quốc gia với kinh đô tại Mê Linh và Trưng Trắc tự phong là Nữ Vương, phong cho em gái Trưng Nhị là Phó Vương. Ở đây chúng tôi hiểu Trưng Nữ Vương (徵女王) là hai chị em Nữ Vương và Phó Vương.

2. Kinh Dương Vương (chữ Hán: 涇陽王) là vua thủy tổ của đất nước Bách Việt. Lãnh thổ của quốc gia dưới thời Kinh Dương Vương rộng lớn, phía bắc tới sông Dương Tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên, Quốc ngày nay). Kinh Dương Vương truyền ngôi cho con là Lạc Long Quân.

3. Triệu Vũ Vương (Triệu Đà) là vua lập ra nhà Triệu (207 TCN-111 TCN) của nước Nam Việt. Nước Nam Việt của nhà Triệu bao gồm các quận ở Đông Nam Trung Quốc và miền Bắc nước ta ngày nay. Triệu Thuật Dương Vương là vua cuối cùng của nhà Triệu bị nhà Hán diệt.

4. Các triều đại Trung Hoa thường coi các dân tộc láng giềng nên hay gọi là Di, Địch.

5. Các triều đại Trung Hoa sau khi chinh phục được các nước láng giềng đều đổi các nước này thành châu, quận. Nước ta thời Bắc thuộc bị gọi là Giao châu hay quận Giao Chỉ.

6. Tô Định, thái thú Giao Chỉ của nhà Hán là kẻ tàn ác và tham lam. Tô đã giết Thi Sách – chồng của Trưng Trắc và nhiều người Việt yêu nước.

7. Mã Viện, Phục Ba tướng quân – Đại tướng tài ba của nhà Đông Hán đã cầm quân tái xâm lăng nước ta và đàn áp đẫm máu Hai Bà Trưng.

8. Hai Bà Trưng đã giải phóng 65 thành trì ở Lĩnh Nam (các quận Nam Hải, Hợp Phố, Giao Chỉ Cửu Chân và Nhật Nam). Sự nghiệp của Trưng Vương vĩ đại có một không hai ở nước ta trong suốt một nghìn năm Bắc thuộc.

Ngô Quyền (1)

(Ngô Vương)

07.2015

Đất Việt sinh ra đại anh hào

 

Trí dũng ngời ngời, tiếng nức cao

 

Đại La lừng lẫy trừ Công Tiễn (2)

 

Bạch Đằng nổi tiếng diệt Hoằng Thao (3)

 

Non nước từ đây giành độc lập

 

Dân tộc mai sau được mạnh giàu

 

Ngô Vương xứng bậc „Trung Hưng Tổ“ (4)

 

Bắc thuộc nghìn năm rũ sạch làu.

 

________________

(1) Ngô Quyền (chữ Hán: 吳權; 12 tháng 3 năm 898 – 14 tháng 2 năm 944), còn được biết đến với tên gọi Tiền Ngô Vương (前吳王) hoặc Ngô Vũ Vương, là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Năm 938, ông là người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng, chính thức kết thúc gần một ngàn năm Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam. Sau chiến thắng này, ông lên ngôi vua, lập ra nhà Ngô, trị vì từ năm 939 đến năm 944.

(2) Năm 937, hào trưởng đất Phong Châu là Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ – Tiết Độ sứ Giao châu và cũng là bố vợ của Ngô Quyền. Nội bộ họ Kiều cũng chia rẽ trầm trọng. Bị cô lập, Kiều Công Tiễn vội vã cầu cứu nhà Nam Hán. Ngô Quyền nhanh chông tập hợp lực lượng, kéo quân ra Bắc, giết chết Kiều Công Tiễn

(3) Ngô Quyền đã chuẩn bị quyết chiến với quân Nam Hán. Trong trận quyết chiến trên sông Bạch Đằng vào năm 938 quân ta đã đánh bại quân Nam Hán. Chủ tướng giặc là hoàng tử nhà Nam Hán – Lưu Hoằng Thao (có sách chép là Lưu Hoằng Tháo hay Lưu Hồng Tháo) đã bị tiêu diệt.

(4) Sử gia Ngô Sĩ Liên ca tụng ông là mưu tài đánh giỏi, làm nên công dựng lại cơ đồ, đứng đầu các vua. Phan Bội Châu tôn vinh ông là „vua Tổ phục hưng dân tộc”.

Lý Công Uẩn (1)

(Lý Thái Tổ)

01. 2017

Mẹ nhờ tinh túy của thần linh(2)

 

Cổ Pháp sinh thành bậc thánh minh

 

Chữ thần trên gạo điềm linh ứng(3)

 

Hạt mận trong lê mộng rõ rành(4)

 

Lên ngôi trị nước, nhà Nam vượng

 

Cầm quân dẹp loạn, xứ Man bình(5)

 

Ban chiếu dời đô, rồng cất cánh(6)

 

Thăng Long muôn thuở đất Kinh Thành.

________________

(1) Lý Công Uẩn (chữ Hán 李公蘊) tức là vua Lý Thái Tổ (974 – 1028 d.l.), là vị vua sáng lập ra nhà Lý, trị vì từ năm 1009 đến năm 1028.

(2) Theo truyền thuyết mẹ Lý Công Uẩn họ Phạm, đi chơi chùa Tiêu Sơn, đi lại với người thần rồi có mang, sinh Lý Công Uẩn vào năm Giáp Tuất, niên hiệu Thái Bình năm thứ 5 (974 d.l.). Lúc lên 3 tuổi ông được Lý Khánh Văn nhận làm con nuôi. Từ nhỏ ông đã thông minh, tuấn tú khác thường. Nhà sư Vạn Hạnh ở chùa Lục Tổ khen rằng: „Đứa bé này không phải người thường, lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ“.

(3) Thời vua Lê Long Đĩnh, hương Diên Uẩn, châu Cổ Pháp, có cây gạo bị sét đánh, có chữ trên ấy. Vị sư Vạn Hạnh Vạn Hạnh mới bảo Lý Công Uẩn rằng: „Mới rồi tôi thấy chữ bùa sấm kỳ lạ, biết họ Lý cường thịnh, tất dấy lên cơ nghiệp. Nay xem trong thiên hạ người họ Lý rất nhiều, nhưng không ai bằng Thân vệ là người khoan thứ nhân từ được lòng dân, lại đang nắm binh giữ quyền trong tay, đứng đầu muôn dân chẳng phải Thân vệ thì còn ai đương nỗi nữa…“

(4) Có lần Lê Long Đĩnh mơ ăn qủa lê lại thấy hạt mận (mận còn gọi là lý), mới tin lời sấm là họ Lý sẽ lên thay họ Lê, bèn ngầm tìm người họ Lý giết đi nhưng Lý Công Uẩn không bị hại. Long Đĩnh qua đời, con trai Lý Công Uẩn còn nhỏ, ông được các đại thần Đào Cam Mộc và sư Vạn Hạnh tôn ngôi vua, miếu hiệu là Lý Thái Tổ.

(5) Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tháng Hai năm Tân Hợi (1011), tức là năm Thuận Thiên thứ hai, vua Lý Thái Tổ mang quân đi phạt quân Cử Long ở Ái Châu, đánh bại Cử Long. Tháng 10 năm Thuận Thiên thứ 4 (Quý Sửu 1013), vua lại thân chinh đánh quân Man ở châu Vị Long và gianh chiến thắng. Năm Thuận Thiên thứ 11 (Canh Thân 1020), ông lệnh cho con đem quân đi đanh Chiêm Thành, và giành chiến thắng. Các vương quốc láng giềng như Chiêm Thành và Chân Lạp đều sang triều cống nhà Lý, nên việc bang giao thời bấy giờ được yên trị.

(6) Năm Thuận Thiên thứ hai (1010) ông cho dời kinh đô từ Hoa Lư về thành Đại La. Khi khởi sự dời đô, thuyền vua đến đậu ở dưới thành thì thấy có con rồng vàng bay lên, nhân thế đổi tên thành là Thăng Long. Vua cũng đổi tên thành Hoa Lư thành phủ Tràng An.

Lý Thường Kiệt (1)

07.2015

Quốc tính vua ban Thượng tướng quân

 

Dùng binh như chớp, kế như thần

 

Khâm Ung mấy trận Trương, Tô gục (2)

 

Như Nguyệt nhiều phen Quách, Triệu tàn (3)

 

Nam phương chinh phục, xiềng Vua Chế (4)

 

Xã tắc xây bền, giúp Ỷ Lan (5)

 

Tam Giang đền ấy đêm trăng tỏ (6)

 

„Nam Quốc Sơn Hà“ mãi ấm vang.

________________

(1) Lý Thường Kiệt (chữ Hán: 李常傑 1019 – 1105) là một nhà quân sự, nhà chính trị cũng như hoạn quan rất nổi tiếng vào thời nhà Lý nước Đại Việt. Ông làm quan qua 3 triều vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông và đạt được nhiều thành tựu to lớn.

Ông tên thật là Ngô Tuấn. Vì có nhiều đại công nên ông được phong là Phụ quốc Thượng tướng quân tước Khai quốc công và được vua Lý ban quốc tính – họ Lý.

(2) Trong chiến dịch đánh vào các châu Khâm, Liêm và Ung của nhà Tống, quân nhà Lý đại thắng. Các tướng nhà Tống là Trương Thủ Tiết và Tô Giám đã bị tiêu diệt.

(3) Quách Quì và Triệu Tiết là chánh và phó tướng quân Tống sang xâm lược nước ta và bị chặn đứng bên sông Như Nguyệt (sông Cầu).

(4) Lý Thường Kiệt đã đánh Chiêm Thành và bắt sống vua Chiêm là Chế Củ.

(5) Lý Thường Kiệt đã giúp hoàng hậu Ỷ Lan trị vì đất nước.

(6) Đền Tam Giang thờ hai anh hùng Trương Hống và Trương Hát, tướng thời Triệu Việt Vương. Trong chiến dịch chống giặc Tống, Lý Thường Kiệt đã cho đọc bài Nam Quốc Sơn Hà trong đền để động viên tướng sỹ.

Trần Khâm (1)

(Trần Nhân Tông)

11.2015/08.2021

Kim Tiên đồng tử khác người trần

 

Sắc thái như vàng rõ thánh nhân (2)

 

Trọng đãi nhân tài vì nước thịnh

 

Thương yêu bách tính cốt yên dân

 

Nguyên Mông hung bạo lo trừng phạt (3)

 

Chiêm Lào phên dậu gắng chiêu an (4)

 

Xem nhẹ lợi, danh, tình cũng đoạn

 

Bỏ cõi mê hướng đến Phật Thần.

________________

(1) Trần Khâm (chữ Hán 陳昑) là húy của vua Trần Nhân Tông, nhà Trần.

(2) Khi mới sinh ra, ông được tả là „tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thai như vàng, thể chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng“, và cha mẹ ông gọi ông là Kim Tiên đồng tử.

(3) Dưới thời Trần Nhân Tông quân đội Đại Việt dưới sự chỉ huy của vua, Thượng hoàng và Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn đã hai lần đánh bại đại quân Nguyên Mông. Nổi tiếng nhất là trận Bạch Đằng, nơi thủy quân Nguyên Mông hoàn toàn bị tiêu diệt, các đại tướng Nguyên Mông như Ô Mã Nhi, Tíc Lệ Cơ, Phàn Tiếp bị bắt sống.

(4) Vua chủ động việc hòa hiếu với Chiêm Thành và Ai Lao. Vua đã gả con gái là công chúa Huyền Trân cho vua Chiêm là Chế Mân. Quân Ai Lao thường hay quấy nhiễu biên giới, bởi vậy năm 1290 vua phải thân chinh đi đánh dẹp và thu phục.

Trần Quốc Tuấn (1)

(Hưng Đạo Vương)

08.2013

Đức Thánh trời Nam, đệ nhất hùng

 

Văn võ toàn tài, trọn hiếu trung

 

Bốn đời vì nước yên Thiên tử (2)

 

Ba lần phá giặc cứu non sông (3)

 

Hàm Tử, Chương Dương dìm Thát Đát (4)

 

Bạch Đằng, Vạn Kiếp quét Nguyên Mông

 

Nghìn năm lời hịch (5) còn văng vẳng

 

Với bầy xâm lược quyết không dung.

________________

(1) Trần Quốc Tuấn (chữ Hán:陳國峻), tước hiệu Hưng Đạo đại vương, được tôn vinh là Đức Thánh Trần. Năm 1257 ông được vua Trần Thái Tông phong làm Tiết chế (Tư lệnh) quân nhà Trần cho cuộc chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ I. Năm 1283 ông được vua Trần Thánh Tông phong làm Quốc công Tiết Chế (Tổng Tư lệnh quân đội) cho cuộc chiến tranh chống quân Nguyên lần thứ II và thứ III.

(2) Trần Quốc Tuấn đã phục vụ cho bốn đời vua Trần: Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông và Anh Tông. Ngày xưa vua xưng là “thiên tử” – nghĩa là con của Thượng Đế.

(3) Trần Quốc Tuấn đã chỉ huy quân đội nhà Trần trong cả ba cuộc chiến tranh chống quân Nguyên. Hàm Tử quan, Chương Dương độ, Tây Kết, Vạn Kiếp, Bạch Đằng là tên những chiến dịch lớn mà quân Trần đã từng bước đánh bại và hoàn toàn tiêu diệt đại quân nhà Nguyên.

(4) Thát Đát là tên gọi chung các bộ tộc gốc Thổ và gốc Mông Cổ. Thời nhà Trần gọi giặc Nguyên Mông là giặc Thát.

(5) Dụ chư tì tướng hịch văn (諭諸裨將檄文) còn gọi là Hịch Tướng sỹ là bài hịch viết bằng văn ngôn của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn viết cuối thế kỷ 13 trước cuộc chiến tranh chống quân Nguyên Mông lần thứ II.

Lê Lợi (1)

(Lê Thái Tổ)

06.2015

Phất cao cờ nghĩa đất Lam Sơn

 

Muôn hiểm nghìn nguy dạ chẳng sờn

 

Lũng Nhai nguyện „xả thân cứu nước“ (2)

 

Đông Quan thề „tha giặc cứu dân“ (3)

 

Trăm trận lừng danh trang tuấn kiệt

 

Đời đời nức tiếng bậc anh quân

 

Quét sạch quân Minh, hưng đất Việt

 

Nước mất nhờ Vua nước lại còn (4).

________________

(1) Lê Lợi (chữ Hán 黎利) là tên húy của vua Lê Thái Tổ (chữ Hán: 黎太祖 10 tháng 9, 1385 – 5 tháng 10, 1433), là vua đầu của nhà Lê Sơ. Ông phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, Thanh Hóa và trải qua mười năm chiến đấu gian khổ và kiên cường. Sau khi đánh đuổi quân Minh ra khỏi nước ta ông lên làm vua, miếu hiệu là Lê Thái Tổ.

(2) Hội thề Lũng Nhai: Năm 1416, Lê Lợi đã cùng các hào kiệt cùng thề ở Lũng Nhai nguyện đánh đuổi giặc Minh cứu nước.

(3) Hội thề Đông Quan: quân Minh thề từ bỏ dã tâm xâm lược và rút về nước và nghĩa quân Lam Sơn thề tha không tiêu diệt quân Minh trên đường rút quân khỏi nước ta.

(4) Nhà Hồ làm mất nước ta vào tay giặc Minh. Lê Lợi, bậc đại anh hùng đã cứu nước ta ra khỏi ách đô hộ của giặc và chấm dứt 20 năm Bắc thuộc.

Lê Tư Thành (1)

(Lê Thánh Tông)

10.2015

Thông minh, cao sáng tựa tiên đồng (2)

 

Xứng vào ngôi báu đất trời mong

 

Hồng Đức pháp quyền nghiêm nước mạnh (3)

 

Quốc Âm giáo dục chọn người năng (4)

 

Lào, Chiêm chinh phạt toàn thắng lợi

 

Tây, Nam mở cõi vẹn thành công (5)

 

Tao đàn lỗi lạc ngời Nguyên súy (6)

 

Thời hoàng kim cường quốc Á Đông(7).

 

________________

(1) Vua Lê Thánh Tông (chữ Hán: 黎聖宗; 25 tháng 8 năm 1442 – 3 tháng 3 năm 1497) tên húy là Lê Tư Thành, hoàng đế thứ năm của nhà Hậu Lê..

(2) Thời trẻ hoàng tử Lê Tư Thành đẹp tựa tiên đồng với tư chất và tính khí cao sáng, ham học, tay không rời sách; kinh sử, lịch số, toán, chương đều tinh thông. Thời kỳ của vua được đánh dấu sự hưng thịnh của nhà Hậu Lê nói riêng và chế độ phong kiến Việt Nam nói chung với tên gọi là Hồng Đức Thịnh Thế, một trong những thời kỳ hưng thịnh nhất của triều đại phong kiến Việt Nam.

(3) Hồng Đức là niên hiệu của Lê Thánh Tông, có nghĩa là đức lớn.Bộ luật Hồng Đức là Bộ Quốc triều hình luật của nhà Hậu Lê đã được hoàn thiện trong thời Lê Thánh Tông. Với bộ luật này, Đại Việt đã hình thành một nhà nước pháp quyền sớm trên thế giới.

(4) Hoàng đế Lê Thánh Tông chủ trương giáo dục dân sử dụng chữ Nôm (Quốc âm) thay cho chữ Hán để đề cao dân tộc.

(5) Các nước láng giềng Ai Lao và Chiêm Thành đã xâm lấn Đại Việt. Hoàng đế Lê Thánh Tống đã chinh phạt các nước này thắng lợi và mở rộng lãnh thổ Đại Việt về Tây và Nam.

(6) Lê Thánh Tông là một nhà thơ và phê bình văn học nổi tiếng. Ông đã lập ra tao đàn gồm những nhà văn hóa có tiếng đương thời và được tôn là Tao đàn Nguyên súy.

(7) Thời Lê Thánh Tông nước Đại Việt trở thành cường quốc ở Á Đông. Thời Hồng Đức được nhiều sử gia đánh giá là thời hoàng kim của Đại Việt.

Nguyễn Hòang (1)

(Chúa Tiên)

10.2014

Hiểu ý sâu xa của Trạng Trình (2)

 

Hoành Sơn xa tít lên đường nhanh

 

Mở mang đất Việt: phương Nam tiến

 

Khôi phục nhà Lê: hướng Bắc chinh (3)

 

Trả oán bằng ân: hòa Trịnh – Nguyễn (4)

 

Dùng tình diệt địch: chiến Minh Linh (5)

 

Hùng tài, mưu lược và nhân ái

 

Nguyễn triều Thái Tổ nước Nam mình (6).

________________

(1) Nguyễn Hoàng (chữ Hán: 阮潢; 28 tháng 8, 1525 – 20 tháng 7 năm 1613) là vị chúa Nguyễn đầu tiên, cũng là người có công lớn nhất mở mang đất nước về phía Nam, được gọi là Chúa Tiên. Ông là con trai út của Nguyễn Kim, thủ lĩnh khởi nghĩa chống lại nhà Mạc và phục hưng nhà Lê.

(2) Sau khi anh trai của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Uông bị anh rể là Trịnh Kiểm lúc đó đang nắm binh quyền của nhà Hậu Lê giết, ông sợ lại bị sát hại. Ông đã cho người tìm đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để xin lời khuyên, Trạng Trình không trả lời mà chỉ nhìn hòn non bộ và ngâm rằng: „Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân“ có nghĩa là „Một dải núi Hoàng Sơn là chỗ dung thân muôn đời“. Hiểu ý đó ông đã xin vào làm trấn thủ Thuận Hóa để lánh nạn.

(3) Nguyễn Hoàng là người có công lớn nhất trong việc mở mang bờ cõi nước ta về phía Nam. Để khôi phục nhà Lê ông đã cầm quân ra Bắc đánh Mạc Phúc Hải (con trưởng Mạc Đăng Doanh), chém được tướng là Trịnh Chí ở Ngọc Sơn. Năm 1593, ông lại đưa quân ra Bắc Hà giúp chúa Trịnh (Tùng) đánh dẹp họ Mạc trong 8 năm trời.

(4) Ông bị chúa Trịnh (Tùng) nghi ngờ và dọa dẫm. Để làm dịu tình hình và tăng hòa hiếu Nguyễn Hoàng đã viết thư nhận lỗi, lấy thóc lúa vàng bạc ra Bắc cống nộp cho Trịnh Tùng, và hẹn kết nghĩa thông gia. Mùa đông năm 1600, Nguyễn Hoàng đã gả con gái là Ngọc Tú cho Trịnh Tráng, con cả của Trịnh Tùng.

(5) Nhà Mạc sai đem tướng Lập Bạo đem 60 chiến thuyền đánh vào Thuận Hóa, đổ bộ lên làng Hồ Xá và ở làng Lạng Uyển (thuộc huyện Minh-Linh) để tấn công Nguyễn Hoàng nhưng Chúa (Nguyễn Hoàng) đã thân chinh đi đánh lại. Ông đóng giữ bên bờ sông Ái Tử rồi dùng mỹ nhân kế để để tiêu diệt Lập Bạo.

(6) Hoàng đế Gia Long nhà Nguyễn đã truy phong cho Nguyễn Hoàng miếu hiệu là Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế.

Nguyễn Huệ (1)

(Hoàng đế Quang Trung)

10.2015

Sấm rằng „…khởi nghĩa Bắc thu công“(1)

 

Phá tan chúa Nguyễn cướp Đàng Trong

 

Mượn tiếng Phù lê Lê nơi thành Bắc (2)

 

Dẹp yên Phủ Trịnh phía sông Hồng

 

Giặc Xiêm: dìm xuống sông Xoài Mút (3)

 

Quân Thanh: quét sạch đất Thăng Long (4)

 

Hoàn thành sứ mệnh Thiên thời định

 

Giang sơn phó mặc kế anh hùng(5).

 

________________

(1) Nguyễn Huệ (1753 –1792) là em của Nguyễn Nhạc, thủ lĩnh của khởi nghĩa Tây Sơn.

(2) Lấy cớ diệt quyền thần Trương Phúc Loan để bảo vệ chúa Nguyễn ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đã khởi nghĩa ở Tây Sơn, Bình Định. Tương truyền câu sấm „Tây khởi nghĩa, Bắc thu công“ là của Trương Văn Hiến thầy dạy của họ.

(3) Dùng mưu của Nguyễn Hữu Chỉnh (tướng nhà Trịnh hàng Tây Sơn) – mượn danh nghĩa „Phù Lê diệt Trịnh“, Nguyễn Huệ đã cầm quân Bắc tiến, nhanh chóng đánh bại nhà Trịnh. Nguyễn Huệ được vua Lê Hiển Tông. phong làm Nguyên súy Dực chính phù vận Uy quốc công và gả con gái là công chúa Ngọc Hân.

(4) Tháng 2 năm Giáp Thìn (1784) vua Xiêm La là Chất Tri (Chakri, Rama I) sai hai tướng là Chiêu Tăng, Chiêu Sương đem 2 vạn quân thủy cùng 300 chiếc thuyền sang giúp Nguyễn Phúc Ánh. Nguyễn Huệ đã dùng mưu của tướng Lê Xuân Giác (trước theo Nguyễn Phúc Ánh) bố trí trận địa và nhử quân Xiêm đến gần Rạch Gầm và Xoài Mút (ở phía trên Mỹ Tho) để tiêu diệt. Trận quyết chiến diễn ra trong không đầy một ngày đã tiêu diệt gần như hoàn toàn 2 vạn quân Xiêm.

(5) Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc, cầu viện. Hoàng đế nhà Thanh là Càn Long đã sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị chỉ huy 29 vạn quân Thanh hộ tống Lê Chiêu Thống về Đại Việt với danh nghĩa „phù Lê“ và chiếm đóng Thăng Long. Vua Quang Trung lên ngôi ở Phú Xuân rồi chia quân làm 5 đạo tiến đánh, tiêu diệt gần như toàn bộ quân Thanh ở Thăng Long. Sĩ Nghị và Chiêu Thống phải bỏ chạy sang Trung Quốc.

(6) Người đời sau thường tiếc cho sự nghiệp ngắn ngủi của vua Quang Trung, nhưng nhìn sâu hơn ta thấy vua đã hoàn thành sứ mệnh Thiên định của mình. Lịch sử đã sang trang mới và giang sơn được giao phó cho người anh hùng kế tiếp (kế anh hùng).

Nguyễn Phúc Ánh (1)

(Hòang đế Gia Long)

10.2014

Tây Sơn nổi dậy, Nguyễn nguy nan(2)

 

Nhà Trịnh thừa cơ chiếm Phú Xuân

 

Mười bảy tuổi phục hưng cơ nghiệp (3)

 

Hai nhăm năm thống nhất giang san (4)

 

Gia Định, Thăng Long về triều Việt

 

Hoàng Sa, Phú Quốc thuộc nhà Nam (5)

 

Biển trời nghìn dặm Đông Nam Á

 

Mãi mãi ghi công Thế Tổ Hoàng (6).

________________

(1) Nguyễn Phúc Ánh là tên của Hoàng đế Gia Long nhà Nguyễn. Ông là con của hoàng tử Nguyễn Phúc Luân và là cháu nội của chúa Nguyễn Phúc Khoát.

(2) Khi triều đình của chúa Nguyễn bị Tây Sơn đánh phá thì nhà Trịnh đã đưa quân vào chiếm Phú Xuân – kinh đô của Chúa Nguyễn. Anh em Tây Sơn nhanh chóng hàng nhà Trịnh để tranh thủ thế lực tiêu diệt các chúa Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương. Nguyễn Phúc Ánh sống sót chạy vào Gia Định.

(3) Năm mười bảy ông tuổi được các tướng tôn lên ngôi Chúa (Nguyễn Vương) để khôi phục cơ đồ.

(4) Nguyễn Vương (Nguyễn Phúc Ánh) đã bền bỉ chiến đấu chống Tây Sơn hai mươi nhăm năm. Sau khi dẹp được nhà Tây Sơn ông lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long.

(5) Hoàng đế Gia Long đã thống nhất đất nước sau 3 thế kỷ nội chiến và chia cắt. Đất nước Việt Nam thống nhất từ Đàng Ngoài vào Đàng Trong và biển đảo bao la, kể cả các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Phú Quốc. Sau khi thống nhất đất nước Vua đã xây dựng chính quyền quân chủ mạnh giàu và độc lập. Triều đại của Gia Long được đánh dấu bằng việc chính thức sử dụng quốc hiệu Việt Nam với cương thổ thống nhất rộng lớn nhất cho đến thời đó.

(6) Nhà Nguyễn đặt thụy hiệu cho ông là Hoàng đế Nguyễn Thế Tổ. Có nhiều ý kiến khác nhau về công cuộc khôi phục nhà Nguyễn và thống nhất đất nước của vua Gia Long nhưng thực tế là vua đã dẹp triều Tây Sơn đã hoàn toàn mục nát và mất đoàn kết để thu dất nước về một mối.

Lý Bí (1)

(Lý Nam Đế)

07.2015

Non sông rên xiết bấy nhiêu niên (2)

 

Lý Bí anh hùng vùng đứng lên

 

Đuổi quân Lâm Ấp bình Nam Quận (3)

 

Dẹp bầy Lương Ngụy giữ Long Uyên(4)

 

Đánh giặc: Phạm Tu, Quang Phục giỏi

 

Trị quốc: Tinh Thiều, Triệu Túc hiền (5)

 

Giao Châu, Hợp Phố về nhà Việt (6)

 

Vạn Xuân non nước của Rồng Tiên.

_______________

(1) . Lý Bí (李賁) hoặc Lý Bôn là tên của vua Lý Nam Đế, (chữ Hán: 李南帝; 503–548). Ông đã lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa, đánh đuổi được giặc Lương đô hộ, rồi xưng là Nam Đế (vua nước Nam), đặt tên nước là Vạn Xuân, đóng đô ở vùng cửa sông Tô Lịch (Hà Nội ngày nay).

(2) Bấy giờ là thời Nam Bắc Triều bên Trung Quốc, nước ta bị nhà Lương đô hộ. Lý Bí liên kết với các châu lân cận cùng chống lại thứ sử Tiêu Tư nhà Lương. Cuối năm 541, Lý Bí chinh thức khởi binh, khí thế rất mạnh. Theo sách Lương thư của Trung Quốc, Tiêu Tư liệu thế không chống nổi quân Lý Bí, phải chạy về Quảng Châu. Quân của Lý Bí đánh chiếm lấy thành Long Uyên.Tuy Tiêu Tư đã bỏ chạy nhưng Lý Bí chỉ mới kiểm soát được vùng Bắc Bộ Việt Nam hiện nay, các châu phía nam vẫn còn trong tay nhà Lương. Tháng 4 năm 542, Lương Vũ Đế sai Thứ sử Việt châu là Trần Hầu, Thứ sử La châu là Ninh Cự, Thứ sử An châu là Úy Trí, Thứ sử Ái châu là Nguyễn Hán cùng hợp binh đánh Lý Bí. Nhưng Lý Bí đã chủ động ra quân đánh trước, phá tan lực lượng quân Lương ở phía nam, làm chủ toan bộ Giao Châu.

(3) Nam Quận – quận Nhật Nam, giáp nước Lâm Ấp.

(4) Long Uyên, sau đổi thành Long Biên.

(5) Các tướng giỏi của Lý Nam Đế.

(6) Thời bấy giờ đất Hợp Phố (Quảng Đông ngày nay) thuộc về nước Vạn Xuân.

Triệu Quang Phục (1)

(Triệu Việt Vương)

07.2015

Bền bỉ năm năm một chiến trường

 

Anh hùng nào khác Dạ Trạch Vương (2)

 

Cự bọn Bá Tiên lùi giặc Bắc

 

Diệt lũ Dương Sàn dứt ngụy Lương

 

Long Uyên đô hội bền thành lũy

 

Vạn Xuân đất nước vững biên cương

 

Phật Tử (3) làm sao mà cướp nước

 

Nếu biết nghe lời nhị họ Trương(4).

________________

(1) Triệu Quang Phục (趙光復) là tên húy của Triệu Việt Vương, vua nước Vạn Xuân, trị vì từ năm 548 đến năm 571. Ông có công kế tục Lý Nam Đế đánh đuổi quân xâm lược nhà Lương, giữ nền độc lập cho nước Vạn Xuân.

Năm 545, tháng 5, nhà Lương cho Dương Phiêu (hay Dương Thiệu) làm Thứ sử Giao Châu, Trần Bá Tiên[ làm tư mã, đem quân xâm lấn, lại sai Thứ sử Định Châu là Tiêu Bột hội quân với Dương Phiêu.Trần Bá Tiên đem quân đi trước. Khi quân của Bá Tiên đến Giao Châu, Lý Nam Đế đem quân ra chống cự, bị thua trận ở Chu Diên và ở cửa sông Tô Lịch, các tướng Tinh Thiều, Phạm Tu tử trận. Ông chạy về thành Gia Ninh (Phong Châu cũ , quân Lương đuổi theo vây đánh. Sau khi thua trận tại hồ Điển Triệt, Lý Nam Đế phải lui về động Khuất Lão, ông ủy thác cho con Thái phó Triệu Túc là Tả tướng Triệu Quang Phục trông coi việc nước, điều quân đi đánh Bá Tiên.

(2) Năm 547, tháng Giêng, Triệu Quang Phục lui về giữ đầm Dạ Trạch, dùng chiến thuật đánh du kích chống quân Lương, người trong nước gọi ông là Dạ Trạch Vương. Năm 550,Trần Bá Tiên mưu tính cầm cự lâu ngày, nhưng lúc nhà Lương có loạn Hầu Cảnh, gọi Trần Bá Tiên về và ủy thác cho phó tướng là Dương Sàn ở lại. Triệu Quang Phục tung quân ra đánh. Dương Sàn chống cự bị thua và chết trận. Quân Lương tan vỡ chạy về bắc. Thắng trận, ông lên làm vua nước Vạn Xuân, xưng là Triệu Việt Vương, đóng đô ở thanh Long Uyên (sau này đổi thành Long Biên).

(3) Lý Phật Tử là cháu họ của Lý Nam Đế. Triệu Việt Vương chia một phần đất nước cho Lý Phật Tử. Sau này ông bị Lý Phật Tử đánh úp và thua trận, và triều đại Triệu Việt Vương kết thúc.

(4) Trương Hống và Trương Hát, hai vị tướng đã can Triệu Việt Vương đừng gả con gái là Cảo Nương cho Nhã Lang con trai của Lý Phật Tử để tránh hậu họa. Triệu Việt Vương đã không nghe họ và hậu quả là mất nước về tay Lý Phật Tử.

Đinh Bộ Lĩnh (1)

(Đinh Tiên Hoàng)

09.2015

Xương Văn ngã xuống, loạn mười phương(2)

 

Trời sinh Bộ Lĩnh thế Ngô Vương

 

Tám xứ giao tranh toàn bại sứ(3)

 

Ba tướng qui hàng Vạn Thắng Vương(4)

 

Nhất bậc chúa tài gom xã tắc

 

Mười năm vua sáng mở phong cương

 

Đế chế đầu tiên trên đất Việt

 

Hoa Lư phảng phất nét Hàm Dương(5).

________________

(1) Đinh Tiên Hoàng (chữ Hán: 丁先皇; 22 tháng 3 năm 924 – tháng 10 năm 979), tên húy là Đinh Bộ Lĩnh (丁部領), là vị hoàng đế sáng lập triều đại nhà Đinh, nước Đại Cồ Việt. Ông là người có công đánh dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất giang sơn và trở thành hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau 1000 năm Bắc thuộc. Đại Cồ Việt là nhà nước mở đầu cho thời đại độc lập, tự chủ, xây dựng chế độ quân chủ tập quyền ở Việt Nam.

(2) Hậu Ngô Vương – Ngô Xương Văn bị chết trong trận đánh hai thôn Đường, Nguyễn ở Thái Bình (Sơn Tây ngày nay). Sau cái chết của Ngô Xương Văn các lãnh chúa đã nổi lên tranh giành lẫn nhau gọi là loạn 12 sứ quân.

(3) Đinh Bộ Lĩnh đã đánh bại tám và chiêu hàng ba sứ quân còn lại.

(4) Đinh Bộ Lĩnh được tôn là Vạn Thắng Vương, sau lên ngôi lấy đế hiệu là Đinh Tiên Hoàng.

(5) Một số nhà sử học so sánh Đinh Tiên Hoàng với Tần Thủy Hoàng bên Trung Quốc. Hàm Dương là kinh đô nhà Tần thời Tần Thủy Hoàng.

Lê Hoàn (1)

(Lê Đại Hành)

08.2015

Nhà Đinh suy yếu nước nguy nan

 

Giặc Tống hung hăng cướp nước Nam

 

Chém đầu Nhân Bảo thành Bình Lỗ (2)

 

Chặn đứng Toàn Hưng cửa Bạch Đằng (3)

 

Bình định xứ Chiêm yên bờ cõi(4)

 

Trị vì đất Việt vững giang san

 

Người sau dị nghị nàng Dương hậu (5)

 

Ích nước người không hiểu vẫn làm.

________________

(1) Lê Đại Hành (chữ Hán: 黎大行; 941 – 1005), tên húy là Lê Hoàn (黎桓), là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Tiền Lê, trị vì từ 980 đến 1005. .

(2) Lê Đại Hành đã xây thành Bình Lỗ để chặn quân Tống. Khi quân Tống do Hầu Nhân Bảo chỉ huy kéo đến cửa sông Cà Lồ, vua giả vờ xin hàng để đánh lừa Nhân Bảo rồi phục binh đổ ra đánh dữ dội. và tiêu diệt.

(3) Tại sông Bạch Đằng, thủy quân Tống bị quân Đại Cồ Việt chặn đánh. Tướng nhà Tống là Tôn Toàn Hưng dừng quân hơn 70 ngày, chần chừ không dám tiến, sau đó rút quân.

(4) Năm 982, Lê Hoàn cử Ngô Tử Canh và Từ Mục đi sứ Chiêm Thành bị vua Chiêm là Bê Mi Thuế (Paramesvaravarman) bắt giữ. Lê Hoàn tức giận, sai đóng chiến thuyền, sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh, chém Bê Mi Thuế tại trận. Chiêm Thành đại bại.

(5) Theo nhóm một số sử gia, khi Đinh Toàn lên ngôi thì Lê Hoàn làm Phó vương nhiếp chính, quan hệ không trong sáng với thái hậu Dương Vân Nga, cấm cố họ Đinh. Việc các trung thần Nguyễn Bặc, Đinh Điền,Phạm Hạp khởi binh chống Lê Hoàn có thể là những biểu hiện cho thấy mưu đồ thoán đoạt của Lê Hoàn. Ngày nay, số đền thờ các trung thần này rất nhiều so với vài đền thờ Lê Hoàn và thái hậu họ Dương.

Trần Cảnh (1)

(Trần Thái Tông)

11.2015

Lý Hoàng yêu dấu, sớm thành thân

 

Ngôi báu đem nhường cho Đế Trần (2)

 

Thủ Độ đa mưu tài trị nước

 

Phụ Trần túc trí giỏi cầm quân (3)

 

Bình Chiêm tái thiết miền Địa Lý (4)

 

Phạt Tống vi hành xứ Vĩnh An (5)

 

Bến Đông giặc Thát tan thành khói (6)

 

Hào khí Đông A(7) đã xuất thần.

________________

(1) Trần Thái Tông (chữ Hán: 陳太宗 9 tháng 7 năm 1218 – 5 tháng 5 năm 1277), tên húy là Trần Cảnh (陳煚), là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần nước Đại Việt. Ông ở ngôi hơn 32 năm (1225 – 1258), làm Thượng hoàng 19 năm.

(2) Trần Cảnh được nữ hoàng Lý Chiêu Hoàng (nhà Lý) yêu mến nên đại thần Trần Thủ Độ sớm dàn dựng để Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Cảnh và sau đó nhường ngôi cho chồng lúc mới 8 tuổi.

(3) Trần Thái Tông lên ngôi khi còn trẻ nên mọi việc nước đều giao cho Thái sư Trần Thủ Độ. Trong cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông lần I. vua đã được Lê Tần (Lê Phụ Trần) hiến nhiều mưu kế để phá giặc.

(4) Khi nhà Lý suy vong Chiêm Thành thường hay đánh phá ở vùng Nghệ An, dân chết nhiều. Trần Thái Tông đã cầm quân chinh phạt, khôi phục các châu Địa Lý, Ma Linh.

(5) Năm 1241 Trần Thái Tông đã thân hành cầm quân đi đánh các trại Vĩnh An, Vĩnh Bình của nước Tống.

(6) Tháng 1.1258 tướng Mông Cổ là Ngột Lương Hợp Thai Uriyangqatai đem quân đánh Đại Việt, ngày 17. 1.1258 chiếm được kinh thành Thăng

Long. Ngày 29.1.1258 quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Trần Thái Tông đã phản công, đánh tan quân Mông Cổ tại Đông Bộ Đầu (bến Đông). Ngột Lương Hợp Thai rút chạy về Vân Nam (Trung Quốc).

(7) Họ Trần (chữ Hán: 陳) còn được gọi ẩn dụ là Đông A (do chữ Trần 陳 được ghép từ hai thành phần là Đông (東) và A (阿). Hào khí Đông A là hào khí nhà Trần.

Trần Hoảng (1)

(Trần Thánh Tông)

11.2015

Trời ban gươm báu giữ non sông (2)

 

Trợ Phụ hoàng phá giặc bến Đông (3)

 

Sơ bình phát triển nền kinh tế

 

Cận chiến gia tăng lực quốc phòng

 

Quốc Tuấn hùng tài làm Tiết chế(4)

 

Khánh Dư mưu lược trấn miền Đông (5)

 

Nguyên Mông vô địch trời Âu Á (6)

 

Đến nước Nam thua chạy cuống cuồng.

________________

(1) Trần Thánh Tông (chữ Hán: 陳聖宗 12 tháng 10 năm 1240[1] – 3 tháng 7 năm 1290) tên húy Trần Hoảng (陳晃) là vị hoàng đế thứ hai của Hoàng triều Trần nước Đại Việt, ở ngôi từ ngày 30 tháng 3 năm 1258 đến ngày 8 tháng 11 năm 1278. và làm Thái thượng hoàng từ năm 1278 cho đến khi qua đời.

(2) Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, trước khi Hiển Từ Thuận Thiên Hoàng thái hậu mang thai ông, Thái Tông hoàng đế nằm mơ thấy Thượng Đế trao tặng bà một thanh gươm báu.

(3) Trong cuộc Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt lần I, vào ngày 24 tháng 12 năm 1257 (tức năm Nguyên Phong thứ bảy), Thái tử Hoảng cùng với vua cha Trần Thái Tông ngự lâu thuyền kéo quân đến Đông Bộ Đầu, đánh tan tác quân Nguyên Mông.

(4) Để chuẩn bị kháng chiến chống Nguyên Mông lần II. vua đã phong Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc công Tiết chế (Tổng Tư lệnh) toàn bộ quân đội.

(5) Trần Khánh Dư là con nuôi của Trần Thánh Tông và là người có biệt tài. Khánh Dư có tội nên bị vua Trần Thánh Tông phạt tội nặng – cho đánh 100 gậy. Khánh Dư không chết, nhưng ông bị phế truất binh quyền, tịch thu gia sản đuổi về quê hương Chí Linh làm nghề bán than. Trước cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông lần II vua đã triệu tập Khánh Dư, phong làm phó tướng phụ trách mặt bể Hải Đông – Vân Đồn. Trong cuộc chiến tranh chống Nguyên Mông lần III Khánh Dư có công lớn trong việc đánh tan đạo binh thuyền chở lương thực, khí giới của quân Nguyên do Trương Văn Hổ chỉ huy vào tháng 12 năm 1287, góp phần làm xoay chuyển tình thế chiến tranh.

(6) Thời bấy giờ quân Mông Cổ bách chiến bách thắng trên lục địa Á Âu và chỉ thất bại tại Đại Việt.

Napsat komentář

Vaše e-mailová adresa nebude zveřejněna.